Kinh Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà Ra Ni
hoà thượng thích thiền tâm
Download mp4 Download MP3 |

LỜI TỰA
Đức Như Lai ứng thế,
vì muốn cứu vớt các hàm linh khỏi khổ luân hồi, chứng lên quả Phật, nên mở cửa
phương tiện, nói ra muôn ngàn pháp môn. Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni -
một trong các pháp môn - là trí ấn
của tất cả Như Lai, mầu nhiệm rộng sâu, khác chi thuyền bè trong biển ba
đào, nhật nguyệt giữa trời u ám. Các hàng tứ chúng nên phát tâm trì tụng, tất
hiện đời tội chướng tiêu diệt, phước
huệ phát sinh, tương lai sẽ gần gũi chư Phật ở 10 phương Tịnh Độ. Trong niên hiệu Nghi
Phụng thời Hậu Chu, có vị tăng là Phật Đà Ba Lỵ từ Tây Thiên Trúc đến Trung
Hoa. Trong dịp chiêm lễ thánh tích ở
non Ngũ Đài, ngài gặp một lão ông từ
trong núi đi ra, dùng tiếng Phạn bảo rằng: "Pháp sư chẳng nài mệt nhọc, từ
muôn dặm đến đây thành tâm đảnh lễ, mong diện kiến đức Văn Thù, thật đã hết
lòng mộ đạo. Nhưng chúng sanh ở Trung Hoa, đa số tạo nhiều tội nghiệp, hàng
xuất gia phần đông phạm luật nghi, chỉ có kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni mới
diệt được tất cả tội chướng ấy. Chẳng
hay pháp sư có đem theo
kinh đó đến miền này chăng?"
Ngài Phật Đà Ba Lỵ đáp: "Bần đạo đến đây chỉ vì mục đích đảnh lễ đức Văn Thù, nên không đem kinh đó theo". Lão ông nói: "Đức Đại Thánh Văn Thù
hằng có lòng từ bi muốn cứu độ chúng sanh. Pháp sư đã không đem kinh ấy theo, tức
là không hợp với thánh tâm, dù
có gặp đức Văn Thù, cũng không được phần lợi ích. Vậy ngài nên trở về Tây Vức mang kinh ấy đến lưu truyền nơi miền Hán độ, để cứu vớt
sanh loại, siêu độ u linh, tức là báo ơn chư Phật, chừng đó quyết định sẽ gặp Bồ Tát Văn Thù".
Nói xong, bỗng biến mất. Biết lão ông là đức
Văn Thù hóa hiện dạy bảo, ngài Phật Đà Ba Lỵ mừng thương lẫn lộn, cúi đầu đảnh lễ, vội vã trở về Tây Trúc.
Đến năm Vĩnh Thuận thứ hai, ngài
mới đem kinh đến Trung Hoa, vào triều nội, tâu lên mọi việc. Vua nghe xong, vui
đẹp, sắc cho ngài Nhật Chiếu Tam Tạng và quan tư tân điển lịnh là Đỗ Hành Khải
phiên dịch. Dịch xong, vua đem kinh bản bảo tàng trong nội, cấm không cho lưu
hành và thưởng tặng cao tăng Phật Đà Ba Lỵ 30 cuốn lụa. Ngài thương khóc, tâu
rằng: "Bần đạo không kể nguy hiểm thân mạng, từ xa đem kinh đến đây, vì
muốn lợi lạc quần sanh, không nghĩ đến danh lợi. Xin
thánh thượng gia ân cho lại nguyên bản, để các loài hàm linh cùng được
lợi ích!" Vua dạy lưu kinh phiên dịch, và trả lại Phạn bản cho Tây Tăng.
Ngài Phật Đà Ba Lỵ đem phạn bản đến chùa Tây
Minh, tìm được vị tăng Trung Hoa giỏi phạn ngữ là Thuận Trinh, rồi dâng
sớ tâu xin cho cùng phiên dịch, và cho biên ra nhiều bản để lưu hành. Xong, ngài Phật Đà Ba Lỵ đem phạn bản đến non
Ngũ Đài, vào hang Kim Cang rồi không thấy trở ra, tương truyền ngài đã được đức
Văn Thù thu nhận vào pháp hội của chư Bồ Tát. Bởi sự tích trên,
nên bút giả nghĩ kinh này có thể lợi ích cho hàng Phật tử Việt Nam. Theo trong
đại tạng, kinh này có tất cả 9 bản dịch, bút giả lấy bản dịch của ngài Phật Đà
Ba Lỵ làm bản chính, tham chiếu các bản khác của chư vị như: Kim Cang Trí,
Thiện Vô Úy, Địa Bà Ha, Nghĩa Tịnh, Bất Không... bổ vào những chỗ khuyết. Lại
theo Mật tạng, Tôn Thắng chân ngôn
còn có tên là Nhứt Thiết Như Lai Ô
Sắc Ni Sá Tối Thắng Đà Ra Ni1. Thần chú này do đức Thế Tôn ở Đại
Thiện Pháp đường nơi cõi Cực Lạc, sau khi nhập Phổ Chiếu Cát Tường Tam Ma Địa
nói ra. Thấy chú văn y như nhau, bút giả cũng lấy bản Nhứt Thiết Như Lai Ô Sắc
Ni Sá Tổng Trì Kinh làm tài
liệu tham chiếu. Ngoài ra, lại còn có
cuốn Phật Đảnh Tôn Thắng Đà
Ra Ni Niệm Tụng Nghi Quỹ Pháp của ngài Bất Không Tam Tạng dịch. Bút giả nghĩ
pháp thức đó dành cho bực lợi căn chuyên tu về Mật Tông, không thích hợp với
phần đông trình độ hiện nay, nên không dịch ra đây. Việc làm này có phần
nào công đức, xin hồi hướng vãng sanh Tịnh Độ, cho bốn ân, ba cõi, và pháp giới hữu tình. ---o0o--- KINH
PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG
ĐÀ RA NI
Hán dịch: Nước
Kế Tân, sa môn Phật Đà Ba Lỵ Việt dịch: Hòa Thượng Thích Thiền Tâm Như thế tôi nghe: Một thời đức Bạc Già Phạm, ở tại
đạo tràng Măng Tre, trong vườn Thệ Đa Lâm Cấp Cô Độc, thuộc thành Thất La
Phiệt, cùng với 8 ngàn chúng Tì Kheo câu hội. Các vị ấy đều là bậc Đại A La
Hán, hàng tri thức của quần chúng. Trong đây, những tôn giả như: Xá Lỵ Phất,
Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, A Na Luật Đà... làm thượng thủ. Lại có ba vạn hai ngàn Bồ Tát, đều là bậc trụ
nơi hạnh Bất Thối Chuyển, chánh trí soi sáng tất cả các pháp, không còn ngăn
ngại, vô lượng công đức trang nghiêm, cùng các đại chúng đồng thời câu hội. Trong
ấy, các Bồ Tát như: Quán Thế Âm Bồ Tát, Đắc Đại Thế Bồ Tát, Mạn Thù Thất Lỵ Bồ
Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Thắng Liên Hoa Tạng Bồ Tát, Chấp Kim Cang
Bồ Tát, Trì Địa Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Tịnh Trừ Nhứt Thiết Chướng Bồ
Tát... làm thượng thủ. Lại có một vạn Phạm thiên vương, do Thiện Tra
Phạm Ma thiên vương, Thiện Kiến thiên vương làm thượng thủ, từ các cõi khác đến
dự hội. Lại có một vạn hai ngàn vị Đế Thích Thiên vương,
cùng với vô lượng Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na
La, Ma Hô Lặc Già, Cưu Bàn Trà, Tỳ Xá Giá, Nhơn phi nhơn... cũng
tập hội. Bấy giờ đức Thế Tôn đang được bốn chúng vây quanh, cung kính cúng
dường, một lòng chiêm ngưỡng, cầu nghe pháp yếu. Khi ấy, tại cõi trời Đao Lợi, có một vị thiên
tử tên là Thiện Trụ, ngự tại cung báu lớn, đang cùng với các thiên nữ dự cuộc
âm nhạc ca múa vui đùa hưởng lạc. Lúc đó, ở thiên giới vào khoảng cuối đêm,
bỗng nhiên giữa hư không có tiếng gọi bảo: "Thiện Trụ thiên tử! Bảy hôm
nữa, ông sẽ hết phước trời, xả báo thân, đọa xuống cõi Diêm Phù Đề, 7 lần làm
cầm thú, thường ăn đồ nhơ uế. Kế đó lại đọa vào địa ngục, chịu đủ các sự khổ
trải qua nhiều kiếp mới được làm người. Tuy được thân người, nhưng lại đen lùn,
thô xấu, mù cả đôi mắt, các căn không đủ, hơi miệng thường hôi hám, nghèo khó
hèn hạ, hằng thiếu ăn mặc, mọi người đều gớm ghét, lánh xa. Thiện Trụ thiên tử nghe lời ấy rồi, kinh hoàng
tột độ, lông tóc đều dựng đứng, ôm lòng sầu muộn, ông vội đem hương, hoa cùng
các thứ cúng dường, đến chỗ Thiên đế quì xuống, dâng lễ, than khóc thuật lại
việc trên, và thưa: "Nay tôi tâm tư bối rối, mê loạn. Không biết phải làm
thế nào? Cúi xin Thiên Đế xót thương, cứu vớt tôi ra khỏi vòng khổ độc!"
Thích Đề Hoàn Nhơn nghe xong, rất kinh ngạc, tự suy nghĩ: "Thiện Trụ Thiên
Tử đời trước tu phước gì, được sanh lên cõi trời hưởng sự vui thắng diệu nhiều
năm? Lại kiếp xưa tạo nghiệp nhân chi mà sau khi hết thiên phước, phải chịu 7
lần làm cầm thú, rồi đọa vào địa ngục, khi được làm thân người, đôi mắt mù lòa,
thọ đủ điều xấu ác?" Nghĩ như thế rồi, liền nhiếp tâm vào định, dùng thiên
nhãn xem: Thấy Thiện Trụ thiên tử ở cõi trời mạng chung, liền đọa làm thân heo,
hết thân heo thọ thân chó, hết thân chó thọ thân chồn, hết thân chồn thọ thân
khỉ, hết thân khỉ thọ thân rắn độc, hết thân rắn thọ thân kên kên, hết thân kên
kên thọ thân chim quạ. Trong 7 kiếp làm cầm thú ấy, thường ăn những đồ nhơ uế.
Khi thấy biết như thế, ngài cũng lo lắng đau xót giùm cho Thiện Trụ thiên tử. Thiên
đế lại suy nghĩ: Thiên nhãn của ta chỉ thấy biết một ít phần, không thể hiểu
được những nghiệp nhân sâu xa. Duy đức Như Lai là bậc Chánh Biến Tri, mới có
thể thấu suốt tất cả nhân quả thiện, ác. Duy đức Thế Tôn là đấng Đại Từ, mới có
thể cứu vớt Thiện Trụ thiên tử khỏi vòng khổ độc. Ta nên đến cầu thỉnh Như Lai về
việc này!" Nghĩ đoạn, ngài liền suất lãnh Thiện Trụ thiên tử cùng chư
thiên, đem theo các thứ tràng hoa, huơng lạ, anh lạc, thiên y, bay xuống vườn
Thệ Đa Lâm Cấp Cô Độc. Bấy giờ ở cõi nhân gian, thời khắc vào khoảng
đầu hôm, nhằm lúc chư Bồ Tát, thanh văn, thiên long bát bộ, tứ chúng như trên đang
vân tập. Khi đến nơi, Thiên đế hướng dẫn Thiện Trụ và thiên chúng đảnh lễ Phật,
đi nhiễu quanh 7 vòng, dâng hiến lễ cúng duờng. Pháp sự đã xong, Thích Đề Hoàn
Nhơn quì trước Như Lai bạch lại việc trên, và thưa thỉnh rằng: "Bạch đức
Thế Tôn! Thiện Trụ thiên tử đời trước tu phước chi, mà hưởng sự vui nơi cõi
trời trải nhiều thời gian? Lại kiếp xưa tạo nhân gì, sau khi hết phước phải đọa
làm thân cầm thú 7 phen, ăn đồ bất tịnh, rồi thọ sự khổ nơi địa ngục, sự hèn
xấu nơi cõi người? Và do phước nhân nào, cảm được giữa hư không có tiếng mách
bảo? Xin đức Như Lai vì chúng con và đại hội mà nói rõ nhân duyên, lại cúi xin
đấng Thiên Nhơn Sư mở lượng từ bi, cứu vớt cho Thiện Trụ thiên tử được thoát
vòng khổ ách". Khi ấy, đức Như Lai mỉm cười, từ nơi đảnh môn,
phóng ánh sáng ngũ sắc rộng lớn, soi khắp 10 phương cõi Phật. Quang minh ấy ánh
chiếu lẫn nhau, rồi uyển chuyển quay về nhiễu quanh bên hữu Phật ba
vòng, lại trở vào miệng đấng Điều Ngự. Đức Thế Tôn thu nhiếp quang minh xong,
bảo trời Đế Thích rằng: "Lành thay, thiện nam tử! Ông khéo vì Thiện Trụ
thiên tử và đại chúng, hỏi nhân duyên thiện ác tiền sanh. Lại hay vì chúng hữu
tình hiện tại và đời sau, mà thưa thỉnh ta nói pháp môn cứu khổ. Lắng nghe! Ta
sẽ vì các ông giải thuyết rành rẽ: - Này thiện nam tử! Cách vô lượng kiếp về trước,
có đức Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà Thi Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn
Sư, Phật, Thế Tôn. Đức Phật ấy sau khi hóa duyên đã mãn, vào Niết Bàn. Trong
thời tượng pháp của ngài, có một quốc gia tên Ba La Nại, trong nước đó có người
Bà La Môn nghèo, chỉ sanh được một con trai rồi qua đời sớm. Cậu bé ở với mẹ
đến khi khôn lớn, được giao cho việc nông tác ngoài đồng. Bà mẹ ở nhà, tảo tần
lo thức ăn, mỗi ngày đem ra ruộng cho con. Một hôm, cơm nước đưa đến trễ, đứa
con đói khát, sanh lòng hờn giận, dùng lời ác độc mắng rằng: "Mẹ tôi còn
thua loài súc sanh! Tôi thấy mấy con: heo, chó, chồn, khỉ, rắn, kên kên, quạ,
còn biết thương lo cho con của nó. Tại sao bà để cho tôi đói khát mà không đem
cơm nước đến?" Do lòng đợi chờ hờn giận, đứa con nói như thế ba lần. Giây
lát bà mẹ với dáng điệu vội vã đem cơm nước tới, và nói nhiều lời an ủi khiến
cho con vui mừng hết cơn buồn giận. Đứa con vừa ngồi xuống sắp dùng cơm, bỗng
thấy giữa hư không có vị Bích Chi Phật, hình tướng sa môn, bay từ phương Nam qua
phương bắc. Người con thấy rồi, sanh lòng kính ngưỡng, đứng lên chắp tay cúi
đầu đảnh lễ, thỉnh vị Bích Chi Phật giáng lâm. Bích Chi Phật nhận lời thỉnh, từ
từ đáp xuống. Đứa con vui mừng, trải tranh trắng làm tòa ngồi, dâng hiến hoa
sạch đẹp, giảm phần ăn của mình, đem cúng dường vị Sa môn. Sau khi thọ thực
xong, Bích Chi Phật lại vì nói pháp yếu khiến cho được vui mừng. Về sau người con xuất gia, chư tăng cử cho làm
chức Tri Sự. Lúc ấy có người Bà La Môn xây cất tăng xá vừa xong, ngày khánh
thành khách tăng hội đến, lại có thí chủ đem nhiều tô du và sữa đặc cúng dường.
Ông Tri Sự hiềm khách tăng làm phiền rộn, nên không đem tô du và sữa ra thết
đãi. Mấy vị khách tăng hỏi: "Những thức ăn đó là của đàn việt cúng dường
hiện tiền tăng, sao không thấy dọn ra?" Ông Tri Sự tánh nóng vội, liền cả
tiếng mắng rằng: "Bộ mấy ông đui mù hết sao? Có tô du và sữa đâu mà bảo
tôi cất giấu? Nếu muốn đòi thêm, chỉ có phẩn và nước tiểu cho các ông ăn mà
thôi!" Đức Phật bảo Đế Thích: - Đứa con của người Bà La môn nghèo đó là Thiện Trụ
thiên tử hiện nay. Do kiếp trước hờn giận, dùng lời ác gọi 7 tên loài cầm thú
mắng mẹ, nên phải chịu 7 phen làm cầm thú. Bởi khi làm Tri Sự thốt ra những lời
nhơ uế mắng chư tăng, nên nghiệp cảm thường ăn đồ bất tịnh. Do bỏn xẻn giữ
riêng thức ăn của hiện tiền tăng nên bị quả báo địa ngục và chịu nghèo hèn thô xấu
trong kiếp người. Bởi mắng chư tăng là đui mù nên bảy trăm đời phải bị mù đôi
mắt, sống trong cảnh tối tăm chịu nhiều khổ não. Nên biết những tội nghiệp như thế,
đã có nhân, tất phải trả quả, ảnh hưởng không tiêu mất. Lại nữa Thiên Đế! Thiện Trụ thiên tử được hưởng
sự vui thắng diệu ở cõi trời, là do kiếp trước trải tòa, dâng hoa, cúng dường
thức ăn cho vị Bích Chi Phật, và nhờ sức ảnh hưởng của sự nghe chánh pháp. Lại
do đời trước chắp tay ngửa lên hư không, hết lòng kính thỉnh, cúi đầu đảnh lễ
vị Bích Chi Phật, bởi công đức ấy nên được nghe giữa hư không có tiếng mách bảo
cho biết trước. Đó là tiếng vị thần giữ cung điện của Thiện Trụ thiên tử vậy! Khi ấy, Thiện Trụ thiên tử nghe lời Phật dạy, biết
nghiệp mình đều có túc nhân, hết sức ăn năn tự trách. Ông gieo mình đảnh lễ
trước Phật, tỏ bày tội lỗi, cầu xin sám hối, thương khóc, sa nước mắt như mưa,
huyết lệ rơi ứ đọng nơi chiếc khăn trong giỏ đựng hoa, chết ngất hồi lâu mới
tỉnh lại. Đức Phật bảo Đế Thích và Thiện Trụ thiên tử: - Trong 10 nghiệp ác, khẩu nghiệp rất mãnh liệt,
phải biết lời ác còn quá hơn lửa dữ. Lửa dữ chỉ đốt tiêu tài sản của báu ở thế
gian. Lửa giận ác khẩu chẳng những đốt hết thất thánh tài và tất
cả công đức xuất thế mà còn chiêu cảm ác báo về sau. Như Thiện Trụ chỉ vì nóng
giận mắng mẹ và chư tăng, mà tổn bớt phước trời, phải chịu thân cầm thú và địa
ngục. Cho nên, đối với cha mẹ và chư tăng, lẽ ưng tôn
trọng cung kính cúng dường, dùng lời dịu dàng khen ngợi, thường nghĩ đến ân
đức, chớ không nên khinh hủy. Lòng từ ái giữa trần gian chỉ có cha mẹ, ruộng
phước trong ba đời không chi hơn chúng tăng. Các bậc chân tăng hiền thánh, nếu
cúng dường thì công đức không mất. Như tiến thêm, muốn cầu pháp xuất thế, lại
có thể thành đạo. Đâu nên đối với chúng tăng vội thốt lời khinh hủy! Còn cha mẹ
công sanh dưỡng rất khó nhọc, 10 tháng cưu mang khổ nặng, 3 năm bú sữa, mớm cơm. Trải
đủ sự lo lắng gian lao, nuôi con khôn lớn, dạy dỗ, cho học hành, mong con được
thành lập, tài đức hơn người. Nếu con xuất gia, lại mong cho con đắc đạo, thoát
vòng sanh tử. Ân niệm ấy cao rộng như biển trời, khó đền trả. Vì thế, ta đã bảo
A Nan: - Nếu có người vai bên trái cõng cha, vai bên mặt cõng mẹ, đi quanh núi
Tu Di trăm ngàn vòng, huyết chảy ngập 2 bàn chân, còn chưa thể báo công ơn sanh
dưỡng, huống chi lại khởi niệm hờn giận, buông lời khinh mắng ư! - Này Thiên Đế! Thiện Trụ thiên tử nay do thấy
ta, chí tâm sám hối, nên đạo nhãn trong sáng, tội cũng trừ diệt. Đức Thế Tôn lại nhìn Thiện Trụ Thiên Tử an ủi
bảo rằng: "Ông nên chớ quá lo buồn thương khóc. Ta có pháp môn tên là Phật
Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni, ông trì chú này tất sẽ thoát khỏi vòng khổ ách. Môn đà
ra ni đây, vô lượng hằng sa chư Phật đời quá khứ đã nói, ta nay cũng sẽ diễn nói.
Trong các thần chú về Phật Đảnh, môn đà ra ni này rất tối tôn tối thắng, hay
trừ tất cả sự khổ não trong nẻo luân hồi của tất cả chúng sanh!" Thích Đề Hoàn Nhơn nghe Phật nói rất vui mừng,
một lòng khát ngưỡng, thưa rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Cúi xin Như Lai thương
nghĩ đến Thiện Trụ và bọn chúng con, cũng vì chúng sanh đời mạt pháp về sau,
tuyên thuyết môn Phật Đảnh Đà Ra Ni. Chúng con sẽ tuân hành và nguyện cho tất
cả các loài hữu tình đều thoát khỏi sự khổ tam đồ bát nạn !" Bấy giờ đức Như Lai vì Thiên Đế, Thiện Trụ
thiên tử, và 4 bộ chúng, và nghĩ thương chúng sanh đời mạt pháp về sau, dùng
giọng phạm âm trong sáng, thanh diệu hòa nhã như tiếng chim Ca Lăng Tần Già,
thuyết chú rằng: 1. Namo bagabhàté, 2. Sarvatadran lokiya 3. Pradi vitistraya 4. Buddhaya bagabhàté 5. Tadyatha! 6. Aum! Bhrum bhrum, bhrum 7. Suddhàya, suddhàya. 8. Visuddhàya, visuddhàya. 9. Ásàma, sàma. 10. Samànta bhàvasad. 11. Sabhàrana gati gagàna. 12. Svabhàva visuddhi. 13. A'vicanya dumam. 14. Sarvàtattha gadà. 15. Sùgada. 16. Bhàra bhàcanà. 17. Amirtá pisàku. 18. Maha mudra mandara pana. 19. Aum! Áhara, áhàra. 20. Ayusàn dhàrani. 21. Suddhàya, suddhàya. 22. Gagana svabhàva visuddhi. 23. Usnisà vicaya, visuddhi. 24. Sáhàsara rasami santonité. 25. Sàrava tatthagàda. 26. Avalokini. 27. Sàrvatatthàgada matté 28. Sàtra pàramità. 29. Bari pùrani. 30. Nasà bùmipra dissité. 31. Sàrava tatthagada h'ridhàya. 32. Dissàna. 33. Dissité. 34. Aum! Mùdri mùdri, maha mùdri. 35. Vajra caya. 36. Samhàdanà visuddhi. 37. Sàrava Kama, bhàrana visuddhi. 38. Para durikati biri visuddhi. 39. Pratina varadhàya ayùsuddhi. 40. Samayà dissàna dissité. 41. Aum! Mani mani, maha mani. 42. Ámani, ámani. 43. Vimani, vimani, màha vimani. 44. Matdi matdi, màha matdi. 45. Tatthàda bùddha. 46. Kuthi virisuddhi. 47. Visaphora buddhi visuddhi. 48. Aum! hyhy 49. Jàya jàya 50. Vijàya vijàya. 51. Samara samara. 52. Sabhàra sabhàra. 53. Sàrabhà buddha. 54. Dissana 55. Dissité. 56. Suddhi suddhi. 57. Vàjri vàjri màhàvajri. 58. Ávàjri. 59. Vàjra gabi. 60. Jàya gabi. 61. Vijàya gàbi. 62. Vàjra jvàla gàbi. 63. Vàjro nagaté 64. Vàjro nabhàvé. 65. Vajra sambhàvé. 66. Vàjro vàjrina. 67. Vàjram vabhà dumàmà. 68. Sàriram sàrabhà sattabhànaim. 69. Tàcaya biri visuddhi. 70. S'ya vabhà dumi satna. 71. Sàrabhà gati birisuddhi. 72. Sàrabhà tatthagàda s'yami. 73. Sàma sabhà sadyantu. 74. Sarva tatthagada. 75. Sàma sàbhàsa dissité. 76. Aum! S'diya s'diya 77. Buddhiya buddhiya. 78. Vibuddhiya vibuddhiya. 79. Boddhàya boddhàya. 80. Viboddhàya viboddhàya. 81. Mocaya mocaya. 82. Vimocaya vimocaya. 83. Suddhàya suddhàya. 84. Visuddhàya visuddhàya. 85. Samànta tatbiri mocaya. 86. Samandhàya sami birisudhi 87. Sàrabhà tatthagadà samaya h'ridhàya. 88. Dissàna dissité. 89. Aum! Mudri mùdri maha mudra. 90. Mandàra pana. 91. Dissité. 92. Svàhà. Thuyết chú xong, đức Phật bảo: - Này Thiên đế! Môn Như Lai Quán Đảnh Thanh Tịnh
Chư Thú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni này tám mươi tám câu chi trăm ngàn hằng sa
chư Phật đã tuyên thuyết, và nghiêm mật thủ hộ, tùy hỉ ngợi khen. Tất cả Như
Lai đều đồng ấn khả. Nếu có Tì kheo, tì kheo ni, thiện nam tử, thiện nữ nhơn
nào thọ trì hoặc đọc tụng, do công đức ấy, những tội ngũ nghịch, thập ác trong
trăm ngàn muôn kiếp đều được tiêu diệt, sẽ chứng quả A nậu đa la tam miệu tam
bồ đề. Kẻ ấy trong hiện tại sẽ được túc mạng trí, rồi sanh từ cõi trời này đến cõi
trời khác, từ cõi Phật này đến cõi Phật khác. Kẻ ấy sẽ được chư Bồ Tát như Văn
Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí xoa đầu thọ ký, thường ở nơi đạo tràng, nghe hiểu
và thọ trì chánh pháp. Kẻ ấy 3 nghiệp thân, ngữ, ý hằng thanh tịnh, tâm an vui,
thân khổ dứt trừ, được những xúc giác nhẹ lành, thọ mạng tăng thêm, không bị
hoạnh tử. Kẻ ấy sẽ được chư thiên thần hộ vệ, chư Bồ Tát từ ái, chư Phật hệ
niệm. Người thọ trì chú này sẽ đến cõi Địa ngục, ngạ quỷ, Diêm Ma vương đọc
tụng, các tội phạm nơi đó đều được giải thoát, cảnh giới trống rỗng, các cung
trời, cung điện BồTát, cung điện cõi Phật đều mở cửa rước người thọ trì vào. - Tại sao thế? Bởi môn đà ra ni này hay trừ sạch
tội ngũ nghịch, thập ác của chúng sanh, hay cứu tất cả sự khổ nạn trong cảnh Diêm
Ma, bàng sanh, ngạ quỷ, địa ngục, hay độ thoát tất cả chúng sanh nghiệp dày
phước mỏng, nghèo nàn, hèn hạ, đau bịnh, tàn tật, yểu thọ, xấu xa, câm ngọng,
đui điếc, hay cứu vớt các loại A Tu La, Dạ Xoa, La Sát, Phú Đơn Na, Ca Tra Phú
Đơn Na6, các thân quỷ thần, cho đến hay độ thoát các loài thủy tộc,
phi cầm, tẩu thú, rắn rết, ruồi muỗi, côn trùng. Các chúng sanh ấy tùy phận sẽ
được sanh lên các cảnh giới an lành, và lần lượt đều được chứng quả giải thoát. Này Thiên Đế! Nếu có người thọ trì chú này, từ
kiếp hiện tại trở về sau, vĩnh viễn lìa khỏi ác đạo, thường sanh trong dòng quý
tộc ở cõi người, hoặc sanh lên cõi trời, cho đến được cùng 10 phương chư Phật ở
một chỗ, cùng chư Bồ Tát làm bạn lành, và kết cuộc sẽ chứng quả Vô Thượng Đẳng
Giác. Này Thiên Đế! Môn Phật Đảnh Tôn Thắng đà ra ni
của ta đây có đủ thần lực uy thế, công đức rộng lớn như mặt trời kiết tường,
như châu ma ni trong sạch sáng suốt, không bợn nhơ, tùy ở chỗ nào phóng ánh
quang minh làm sáng sạch nơi đó. Lại nữa, như 7 báu thù thắng ở thế gian, tất
cả hàng vua quan dân chúng đều quý trọng ưa thích, nhìn không chán. Môn đà ra
ni này cũng thế, nếu thọ trì đọc tụng, biên chép, hoặc cúng dường, kẻ ấy sẽ
được vô lượng công đức, tất cả thiên, long bát bộ đều kính ưa, quý trọng. Này Thiên Đế! Hàng vua quan tứ chúng nếu biên
chép đà ra ni này để trong tháp 7 báu, nơi bảo tòa sư tử, nơi tháp ngã tư
đường, hoặc nơi đầu phướn cao, lại dùng các thứ hoa, hương, anh lạc, y phục,
thức ăn uống, thuốc men cúng dường, kẻ ấy công đức vô lượng vô biên, phước trí
không thể tính kể. Kẻ ấy là đích tử của Phật, là Bồ Tát Ma Ha Tát, vì cứu vớt được
vô lượng chúng sanh đi qua đi lại nơi đó. Nếu có chúng sanh nào phạm tội tứ trọng, ngũ nghịch,
thập ác, các trọng giới và tất cả tội nặng, ưng đọa tam đồ thọ khổ mà đi ngang
qua tháp hoặc phướn có để đà ra ni này, được một điểm bụi hay một chút gió từ
tháp phướn ấy dính nhiễm đến thân mình, hoặc được bóng tháp phướn che thì tất
cả tội nặng đều tiêu trừ, sanh về cõi trời hưởng sự vui thắng diệu, hoặc tùy
duyên sanh về Tịnh Độ. Kẻ nào thường thọ trì đà ra ni này khi sắp tụng
niệm dùng nước rửa tay, nước đó rơi xuống đất rưới nhằm các loài trùng kiến,
các vật loại ấy đều được nhờ ảnh hưởng công đức sanh lên cõi trời. Cho nên các
hàng Tì Kheo, Tì Kheo Ni, thiện nam, tín nữ nếu trai giới thanh tịnh, sáu thời thọ
trì đà ra ni này, thì các tội tứ trọng, ngũ nghịch, thập ác cùng tất cả các tội
nặng trong ba đời thảy đều được tiêu diệt, được chư Phật Bồ Tát xoa đầu thọ ký. Bấy giờ đã quá nửa đêm, Diêm Ma La Vương, Hộ
Thế Tứ Thiên Vương, Đao Lợi Thiên Vương, Dạ Ma Thiên Vương, Đâu Suất Đà Thiên
Vương, Hóa Lạc thiên vương, Tha Hóa Tự Tại Thiên vương, Phạm Thiên Vương, Đại
Phạm Thiên Vương... suất lãnh quyến thuộc trăm ngàn muôn ức, đem theo hương,
hoa và các thứ trang nghiêm, đến nhiễu quanh bên hữu Phật 7 vòng, đảnh lễ nơi
chân, rồi hiến dâng thức cúng dường. Lễ kính đã xong, lại thưa thỉnh rằng: - Bạch đức Thế Tôn! Chúng con nghe Như Lai diễn
thuyết môn Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni nên đến đây xin thỉnh thọ và tùy thuận
lời dạy mà thủ hộ. Cúi xin đấng Thiên Nhơn Sư vì chúng con mà nói các pháp yếu
về thần chú này, để cho sự thọ trì của chúng con được thông suốt và thành tựu. Đức Phật bảo vua Diêm Ma La và các vị thiên vương: - Lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà giải thuyết: * Nếu có chúng sanh nào bị khổ nạn, tội chướng
cực nặng, không ai cứu hộ, nên chọn ngày trăng sáng, tắm gội, mặc y phục sạch
sẽ, thọ bát quan trai giới, quỳ trước tượng Phật tụng đà ra ni này 1.080 biến
thì tất cả tội nghiệp, chướng nạn đều tiêu diệt. Kẻ ấy sẽ được thanh tịnh giải
thoát, được môn Tổng Trì Đà Ra Ni, biện tài vô ngại. * Nếu kẻ nào tuy chưa trì tụng, mà chỉ nghe âm
thanh của đà ra ni này lọt vào tai, tức liền thành hạt giống Phật. Ví như một
chút kim cang rớt xuống đất, tất lần lượt xuyên lọt đến nơi bản tế mới dừng, đất
tuy dày không thể làm trở ngại. Thần chú này cũng thế, khi đã lọt vào tai, liền huân tập
khiến cho lần lần thành quả chánh giác, phiền não tuy nặng cũng không thể ngăn
che. Dù kẻ ấy bị đọa vào cõi Địa Ngục, Ngạ quỉ, bàng sanh cũng không bị nghiệp
báo làm cho hạt giống đó tiêu mất, mà còn nương sức thần chú lần lượt tiến tu
cho đến khi thành Phật. * Nếu chúng sanh nào một phen nghe được Đà Ra Ni
này, qua kiếp hiện tại sẽ không còn bị các tật bịnh và các sự khổ não, cũng
không còn thọ thân bào thai, tùy theo chỗ hóa sanh hiện nơi hoa sen. Từ đó về
sau, ngũ nhãn lần lần thanh tịnh, được túc mạng trí, kiết sử tiêu trừ, sẽ chứng
quả vô thượng đẳng giác. * Nếu có kẻ nào mới chết, hoặc chết đã lâu, có
người tụng 21 biến đà ra ni này vào một nắm đất hoặc cát, rải lên thi hài, kẻ
ấy sẽ được sanh về 10 phương Tịnh Độ. Như người chết thần thức đã bị đọa vào địa
ngục, ngạ quỉ, bàng sanh, khi đất cát ấy dính vào hài cốt, cũng được thoát khỏi
ác thú, sanh lên cõi trời. * Nếu chúng sanh nào mỗi ngày tụng chú này 21
biến, ưng tiêu được sự cúng dường rộng lớn của tất cả thế gian, khi xả báo thân
sẽ sanh về thế giới Cực Lạc, kẻ nào thường niệm tụng sẽ được tăng thọ mạng,
hưởng sự vui thù thắng, tương lai sanh về 10 phương Tịnh Độ, nghe pháp mầu,
được thọ ký, ánh sáng nơi thân chiếu tất cả cõi Phật, và chứng Đại Niết Bàn. * Nếu muốn được oai lực tự tại, hành giả dùng các
thứ bột như bột nếp, bột gạo v.v.. nắn thành hình người để 8 phương hướng nơi
đàn tràng, ngày đêm đối tám phương mà tụng chú, tất cả sẽ được như ý. * Nếu nước lụt dâng, hướng về phương đó tụng chân
ngôn này 108 biến cầu nguyện, thì nước sẽ rút lui. * Nếu bị nạn vua, nạn quan, nạn binh, nạn giặc
cướp, nạn khẩu thiệt, tụng chú này 21 biến vào năm thứ nước thơm, đem rưới trên
đảnh Phật, các nạn sẽ tiêu diệt. * Nếu chúng sanh nào tướng mạng yểu, muốn cầu
sống lâu, nên chọn ngày trăng sáng, trai giới, tắm gội, mặc y phục sạch, tụng
chú này đủ 1.080 biến, sẽ được trường thọ, tất cả tội chướng đều trừ diệt. * Nếu có người tụng chú này một biến vào lỗ tai
của bất kỳ loài cầm thú nào, thì sanh loại ấy kiếp đó không còn thọ thân cầm
thú, dù nó có nghiệp nặng sẽ bị đọa vào địa ngục, cũng được thoát ly. * Nếu kẻ nào bị bịnh trầm trọng, chịu nhiều đau
khổ, được nghe đà ra ni này, sẽ lìa bịnh khổ, tội chướng tiêu diệt. Cho đến các
chúng sanh trong bốn loài nghe được chú này đều xả bịnh khổ, lìa thân bào thai,
hóa sanh nơi hoa sen, tùy theo chỗ sanh, nhớ biết đời trước không quên mất. * Nếu có chúng sanh nào vừa mới khôn lớn, đã tạo
các thứ tội tứ trọng, ngũ nghịch, thập ác, cho đến lúc tuổi già, tự suy nghĩ
biết mình do nghiệp ác này sau khi mãn phần sẽ đọa vào địa ngục A Tỳ, chịu sự
khổ lớn trải qua nhiều kiếp, rồi xoay vần luân hồi trong 3 đường ác không ai
cứu vớt. Người ấy nên chọn ngày rằm, tắm gội mặc y phục tinh khiết, dùng cái
bát bằng vàng, bạc hoặc đồng, lượng chứa ước một thăng, đựng nước trong sạch để
trước tượng Phật, thọ giới Bồ Tát, trì trai thanh tịnh. Nơi đàn tràng, mình
đứng ở phương Đông hướng về tượng Phật ở phương Tây, đảnh lễ chí thành sám hối.
Rồi tụng đà ra ni này 1.080 biến giữa chừng không gián đoạn, kế đó dùng nước ấy
rưới bốn phương và trên dưới, nguyện cho tất cả đồng được thanh tịnh. Làm phép
này xong, tất cả tội chướng đều được tiêu diệt, thoát khỏi nghiệp báo địa ngục
tam đồ, vua Diêm Ma La buông tha, thần Tư Mạng vui đẹp, không sanh giận trách,
trở lại chắp tay cung kính, tùy hỉ ngợi khen công đức. * Nếu muốn cứu độ người tội nặng, nên chọn ngày rằm,
tụng chú này vào mật hoặc sữa 1.080 biến, rồi cho người đó ăn. Làm như thế,
đương nhơn sẽ tiêu trừ tội chướng sanh về cõi lành, lần lượt tiến tu, chứng quả
vô thượng đẳng giác. * Nếu tụng 21 biến chân ngôn này gia trì vào tăm xỉa
răng, rồi đem dùng có thể trừ bịnh đau răng, được mạnh khỏe, thông minh, trường
thọ. * Nếu muốn cứu độ tội khổ của loài súc sanh, nên
gia trì chú này vào cát hoặc đất vàng 21 biến, rồi rải trên mình chúng và bốn
phương, tội chướng của chúng nó sẽ tiêu diệt. * Nếu có chúng sanh nào muốn được phước đức đầy
đủ, muốn cầu tài bảo xứng ý, muốn cứu hộ mình và người nên khởi lòng lành, mỗi
ngày phát nguyện sám hối, đối trước tượng Phật, kiết ấn tụng chú này bảy biến,
tâm không tán loạn, mắt nhìn tượng Phật không di động, rồi đem công đức ấy hồi
thí cho tất cả chúng sanh. Tác pháp và có tâm lành như thế, quyết định sẽ được
như nguyện, tăng phước lộc trong hiện tại, cho đến cả những đời sau. * Nếu hành giả ở nơi đàn tràng mỗi ngày ba thời,
mỗi thời tụng chú này 21 biến gia trì vào chén nước sạch, rồi dùng tâm trân
trọng bưng chén nước uống. Làm như thế sẽ tiêu trừ các bệnh, sống lâu trăm
tuổi, giải mọi oán kết, tiếng nói thanh diệu, biện tài thông suốt, mỗi đời
thường được Túc Mạng Thông, nhớ biết tiền kiếp. Nếu đem chén nước ấy rưới trong
phòng nhà, cho đến chỗ chuồng trâu, ngựa, thì nơi đó sẽ được oai lực của chân
ngôn giữ gìn an ổn, trừ các nạn: la sát, rắn, rồng. Như đem chén nước ấy, miệng
tụng chú rưới trên đảnh người bịnh và cho bịnh nhơn uống, các thứ bịnh nặng sẽ
tiêu trừ. * Nếu muốn tiêu trừ các tai chướng, nên dùng vải
lụa vụn năm sắc, kết làm cây phất trần. Kế đó tụng chú nơi cây phất, quét bụi
nơi tượng Phật và kinh. Thường làm như thế, chướng nạn của mình sẽ tiêu, mà tội
nghiệp của chúng sanh cũng được trừ diệt. * Nếu bị nhiều khẩu thiệt, tai tiếng phát khởi,
nên dùng châu sa hòa với bạch mật, hoặc đường cát trắng, tụng chú vào đó 21
biến, rồi đem thoa vào môi 100 tượng Phật. Làm như thế khẩu thiệt, tai tiếng sẽ
tiêu trừ. * Nếu vợ chồng chán ghét nhau, muốn được hòa
thuận, tụng chú vào vải hay lụa 21 biến, đem may áo cho chồng hoặc vợ mặc, làm
như thế, vợ chồng sẽ hòa thuận. * Nếu người nam hay nữ bị ma quỉ khuấy rối, hoặc
phần âm yêu đắm, quyến luyến không tha, nên giữ chánh niệm vừa tụng chú vừa xoa
khắp mình nạn nhân, kế đó lấy tay vỗ vào thân, ma quỉ liền bỏ chạy. * Nếu người nữ không có ai đến cưới hỏi, nên dùng
muối tốt sạch, tụng chú vào đó 108 biến, rồi đem cúng dường hiện tiền tăng, tất
sẽ được như ý. * Nếu chỗ ở có quỷ thần dữ khuấy rối, nên tụng
chú vào thức ăn 21 biến rồi đem cúng thí cho ăn. Trong khi ấy lại nói:
"Nay tôi cúng thí cho các vị, như không làm tổn hại chúng sanh thì tùy ý ở
lại, nếu làm tổn hại thì phải mau đi nơi khác". Nếu quỷ thần hung hãn
không nghe lời, nên dùng nọc sắt dài 12 ngón tay, tụng chú vào đó 21 biến rồi
đem đóng xuống đất. Làm như thế, các quỷ thần dữ phải chạy ra khỏi địa giới. * Nếu có bệnh nhân bị tinh mị dựa vào, kẻ cứu hộ
nên nhìn chăm chú vào mặt người bịnh mà tụng đà ra ni này, tinh mị sẽ xuất ra. * Nếu có quỷ La Sát hoặc các loài quỷ dữ vào quốc
giới gây đau bịnh, làm khủng bố và não loạn dân chúng, nên xưng niệm Tam Bảo,
ngày đêm tụng trì chú này, kiết ấn Phật Đảnh Tôn Thắng rải khắp bốn phương, thì
các tai nạn đều tiêu diệt, làm như thế, cũng cứu được chúng sanh thọ khổ ở tam
đồ. * Nếu muốn thí nước cho loài ngạ quỷ, tụng chú
này vào nước sạch 7 biến, rồi rải khắp 4 phương, tâm tưởng miệng nói, cầu cho
chúng được thọ dụng, thì các ngạ quỷ sẽ được uống nước cam lộ. * Nếu người nào buôn bán ế ẩm, muốn được khách
hàng chiếu cố, thường kiết ấn tụng chú này 21 biến, an trí tượng Phật nơi chỗ
tinh sạch kín đáo mà cúng dường, tất sẽ được như ý. * Nếu người nào mỗi ngày 3 thời, mỗi thời tụng
chú này 21 biến, cung kính cúng dường, chí tâm thọ trì, vì người khác giải nói,
người ấy sẽ được an vui, sống lâu, không bịnh, phát sanh trí huệ được túc mạng
thông, khi lâm chung như ve thoát xác, liền được sanh về thế giới Cực Lạc, tai
không còn nghe tiếng địa ngục, huống chi bị sa đọa. Kẻ ấy sẽ tuần tự tiến trên
đường đạo quả cho đến khi thành Phật. Đức Phật bảo vua Diễm La và các vị thiên vương: - Nếu chúng sanh nào muốn lập đàn trì đà ra ni
này, nên dùng đất vàng trộn với nước thơm mà bôi trên mặt đàn, đàn tràng vuông vức
mỗi bề rộng 4 cánh tay, dùng dây lụa năm sắc bao quanh 3 lớp, tụng chú vào hạt
cải trắng, hoặc nước thơm rải bốn bên. Bốn góc đàn để bốn bình nước tinh sạch,
các bình nước lượng lớn nhỏ đều phải đồng nhau. Giữa đàn rải các thứ hoa, đốt
các thứ hương, thắp các đèn dầu có chất thơm. Trước tượng Phật, dùng những đồ
đựng đẹp sạch, đựng các thức ăn như cơm trắng, nếp, sữa, đường, hoặc các thứ
hoa quả cúng dường. Hành giả nên mặc y phục sạch, giữ giới bồ tát, không nên ăn
các thứ ăn có sắc đen. Mỗi thời kiết ấn trì chú này 108 biến, nếu có thể 1.080
biến. Trì tụng như thế sẽ được tiêu các tội chướng, tăng trưởng phước đức căn
lành, sanh về các cõi Tịnh Độ, và được thọ ký thành Phật. Muốn kiết ấn Phật Đảnh Tôn Thắng nên chắp hai
tay lại, hai ngón trỏ co vào lòng bàn tay, hai ngón cái áp vào lóng giữa ngón
trỏ là ấn thành. Khi kiết ấn này tụng chú 108 biến, tức là đã
cúng dường thừa sự 88 cu chi hằng hà sa na do tha trăm ngàn chư Phật, được chư
Phật khen ngợi, xưng là Phật tử. Nếu người nào mỗi ngày kiết ấn, tụng chú này
108 biến sẽ được 10 phương chư Phật thọ ký, quyết định không còn nghi. Như mỗi
ngày kiết ấn tụng được 1080 biến, kẻ ấy sẽ được thân kim cang bất hoại, mau
thành đạo quả. Hành giả nào mỗi ngày thường trì chú này, rồi
kiết ấn đối 4 phương, mỗi phương tụng chú một biến, rải một lượt sẽ được tất cả
thiên, long, quỷ thần cung kính ủng hộ, nhan sắc tươi đẹp, sự cần dùng tùy niệm
sẽ được chư thần xui cho đem đến, phước đức vô lượng, công đức vô biên, chư
Phật ngợi khen, tùy ý sanh về 10 phương Tịnh Độ. Tóm lại, công lực của Tôn Thắng Đà Ra Ni vô
cùng, có thể tùy nguyện ứng dụng, không thể tả xiết! Đức Phật bảo thiên đế và đại chúng: - Môn Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni đây trong thời
mạt pháp nếu có hàng vua quan tứ chúng, y đúng pháp thức lập đàn thọ trì và
cúng dường, đó gọi là tu Bố Thí độ. Khi lập đàn tu hành, giữ ba nghiệp thanh
tịnh, không phiền não giận hờn, là trì giới độ và nhẫn nhục độ, mỗi ngày trì
niệm không gián đoạn biếng trễ là tinh tấn độ. Chuyên y theo pháp tắc, một lòng
không loạn là thiền định độ. Bố thí đàn tràng đúng pháp, thông hiểu phép thọ
trì, khéo lượng chừng độ, biết việc nên làm hoặc không nên làm là Bát Nhã độ. - Này Thiên Đế và đại chúng! Nếu y theo lời dạy
mà kiến lập pháp sự, tức sẽ đầy đủ 6 pháp ba la mật. Các ông nên xoay vần khai
thị, khiến cho chúng sanh được nhiều lợi ích, chứng quả bồ đề! Khi đức Phật nói pháp môn này xong, thiên đế,
Thiện Trụ và chư thiên lãnh giáo trở về thiên cung. Thiện Trụ thiên tử y theo
lời dạy mà thọ trì mãn 7 ngày, dùng thiên nhãn quán sát, tự thấy tội báo của
mình đều tiêu trừ, phuớc thọ ở cõi trời càng tăng thêm vô lượng. Ông vui mừng
khấp khởi, cả tiếng khen ngợi rằng: "Kỳ diệu thay Phật Đà! Kỳ diệu thay
Đạt Mạ! Kỳ diệu thay Tăng Già! Kỳ diệu thay sức chú ân Phật Đảnh Tôn Thắng đà
ra ni, hay trừ diệt tất cả khổ ách, khiến cho tôi thoát khỏi các ác báo như
thế!" Liền đó ông đến trình bạch lại việc ấy với Thiên
Đế, thỉnh ngài cùng thiên chúng xuống cõi Diêm Phù tạ ơn Phật. Thiên Đế suất
lãnh Thiện Trụ và hàng tùy thuộc, đem các thứ hương, hoa, phướn, lọng, y phục,
và anh lạc quý đẹp, ngồi xe báu bay xuống vườn Thệ Đa Lâm, đảnh lễ cúng dường
Phật. Hành lễ xong lại chắp tay, đi nhiễu quanh Như Lai trăm ngàn vòng, rồi
đứng qua một bên, dùng các lời kệ ca ngợi công đức của đức Thế Tôn. Bấy giờ đức Như Lai đưa cánh tay sắc vàng, xoa
đầu Thiện Trụ thiên tử, dùng tiếng hòa nhã nói những lời pháp yếu và thọ cho bồ
đề ký. Đức Phật lại bảo: "Kinh này tên là Tịnh
Nhứt Thiết Ác Đạo Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni, các ông nên thọ trì".
Thiên Đế và đại chúng vui mừng đảnh lễ, tín thọ phụng hành. ---o0o---Lời Sau Cùng Môn Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni, đời Đường có
quan thị ngự sử Võ Triệt thường trì tụng, sau nghe bạn đồng liêu là Tưởng Hình
cũng thọ trì, nhưng văn cú và ngôn âm phần lớn đều sai khác; hỏi ra quan Thị
Ngự Sử Tưởng Hình thọ học với ông Vương Khai Sĩ, và Vương Khai Sĩ lại được ngài
Kim Cang Trí Tam Tạng truyền pháp. Trong khi truyền thọ ngài bảo: "— Tây
Vức cũng ít có bản này. Ta đem theo Phạn bản đến đây, nên mật truyền lại cho
ông". Trong niên hiệu Khai Nguyên, có vị cư sĩ tinh
tu ở non Ngũ Đài, người thường gọi là Vương Sơn Nhơn, cũng trì tụng chú này.
Sau vì cầu siêu cho cha, ông tụng chú đến vài mươi muôn biến, cầu xin được biết
nghiệp báo lành dữ và chỗ sanh của phụ thân. Nhưng kết cuộc không thấy chi, ông
thối tâm muốn ra khỏi núi. Bỗng gặp một lão nhơn đón lại, bảo: "Hiền giả
tụng trì thật là cần mẫn, nhưng vì cách Phật lâu xa, văn cú thất lạc, thiếu sót
nhiều. Nên không mau được ứng nghiệm. Nay gặp nhau đây, tôi xin truyền lại toàn
bản của thần chú". Vương Sơn Nhơn mời về đảnh lễ và thọ pháp. Lão nhơn
dạy: "Hiền giả tụng chú bản này độ một ngàn biến sẽ thấy hiệu lực".
Cư sĩ trì niệm y theo lời. Vài hôm sau lúc ban đêm, bỗng nghe tiếng ngọc hoàn
bội khua thanh thao, giọng tiêu cầm dìu dặt, lần lần giáng xuống trước sân nhà,
cư sĩ kinh lạ bước ra xem, thấy mấy mươi thiên nhơn vây quanh ủng hộ một vị thiên
tiên tướng mạo siêu phàm đi đến. Vị thiên tiên hỏi: "Người biết ta chăng?" Cư sĩ thưa:
"Kẻ dung phàm này mới được hân hạnh diện kiến". Thiên tiên nói:
"Ta là phụ thân của người, năm rồi người trì tụng Tôn Thắng đà ra ni, ta
được nhờ phước lực sanh lên cõi trời. Mấy hôm nay, y phước lại tăng gấp bội hơn
trước, ta được làm vua trong hàng thiên tiên. Bản chú ngươi vừa trì tụng công hiệu
thật không thể nghĩ bàn!" Nói xong, tất cả đồng bay về thượng giới, cư sĩ
vui mừng, cúi lạy tiễn đưa. Từ đó về sau càng thêm tinh tấn. Cũng vào thời đó, tại Đông Đô có ông Vương
Thiếu Phủ tụng chú Tôn Thắng theo bản của ngài Phật Đà Ba Lỵ đã vài muôn biến,
một đêm, ông mộng thấy vị Phạn tăng đi đến bảo: "Nhơn giả tụng niệm rất
tinh thành, nhưng tiếc vì chú văn còn thiếu, nên công hiệu kém!" Thiếu Phủ
đảnh lễ cầu thỉnh bản chú văn đầy đủ. Phạm tăng từ bi chấp thuận, khẩu truyền
từng câu chân ngôn. Sau khi đã thông thuộc tất cả, ông bái tạ đưa vị Phạm tăng
ra khỏi cửa, nhìn qua trời sáng như ban ngày. Thiếu Phủ trở vào nhà thấy tôi tớ
còn đang nằm ngủ. Vừa lúc ông chợt tỉnh giấc, vội gọi kẻ đồng bộc trách bảo
trời đã sáng sao chưa thức dậy? Chúng đáp rằng mới vừa nửa đêm. Lúc ấy ánh sáng
bỗng tắt, trở lại đêm tối như cũ. Thiếu Phủ nhớ cơn thần mộng, lấy làm lạ, nhắm
mắt tụng thần chú mấy biến thấy vẫn thông suốt. Từ đó, ông y theo khẩu truyền
của vị Phạm tăng mà thọ trì. Trong niên hiệu Thiên Bảo năm đầu, Thiếu Phủ
đang nằm nơi tư thất, chợt tắt hơi. Vì nơi ngực còn ấm, người nhà không dám tẫn
liệm. Đến 7 hôm sau, ông bỗng sống lại. Lúc ấy, kẻ háo sự trong thành bảo nhau
đến hỏi về duyên cớ tái sanh. Tiếng đồn lan ra, Vưong Khai Sĩ và Vương Sơn Nhơn
lúc ấy ở Đông Đô không quen biết nhau, cũng đồng đến thăm viếng. Trước mặt các
quan khách, Vương Thiếu Phủ trần thuật như sau: - Tôi vừa nằm nghỉ, chợt hôn mê, thấy có 2 sứ giả
đến dẫn đem đi. Được vài mươi dặm, đến một gốc đại thọ, 2 sứ giả dùng lại tạm
nghỉ, tôi cũng ngồi xuống theo. Bỗng nhớ tới chú Tôn Thắng, tôi liền nhắm mắt
tụng luôn 21 biến. Lúc mở mắt nhìn quanh, không thấy 2 sứ giả đâu cả. Giây lát,
có 4 vị khác đi đến quỳ thưa rằng: "Không biết ngài tu theo diệu pháp nào,
khiến cho 2 sứ giả dẫn độ đều được sanh lên cõi trời?" Tôi đáp: "Tệ
nhơn chỉ tụng Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni". Bốn vị ấy cầu thỉnh:
"Xin ngài vì chúng đệ tử tụng trì, cứu vớt cho khỏi vòng khổ nạn!"
Tôi cũng nhắm mắt tụng 21 biến, lúc mở mắt ra, lại không thấy bốn vị đó. Khoảnh khắc giữa hư không, có tiếng binh đao,
một vị thần mặc tử bào, mang giáp trụ, quân thị vệ đông đảo, đến trước quỳ thưa
rằng: "Tôi là thần Ngũ Đạo Minh Ty, địa vị tuy tôn quý, nhưng vẫn còn
nhiếp về thần đạo. Sáu vị kia nhờ pháp lực của ngài, đều được sanh lên cõi
trời. Xin mời ngài hạ cố đến tệ cư trì tụng, khiến cho đệ tử và chúng sanh nơi
đó được nhờ phước ấm, đồng sanh lên thiên giới". Theo vị thần, tôi đi đến
một khu thành quách to rộng, chu vi ước độ vài mươi dặm. Trong thành có rất
đông tội nhơn, mang gông xiềng họp lại nơi sân rộng trước cung điện, có lẽ đang
chờ khảo tra xử phạt. Vị thần dạy quân bày tòa cao đẹp, làm lễ thỉnh tôi lên
ngồi, còn chính mình quỳ nơi trước, phía dưới, chắp tay lắng nghe. Tôi liền
định tâm chí thành tụng đủ 49 biến, khi mở mắt ra nhìn bốn bề không thấy một ai
cả, chỉ có gông xiềng đứt nát nằm ngổn ngang chung quanh. Còn đang kinh ngạc, bỗng
có 4 sứ giả đến bảo tôi rằng: "Đức vua dạy mời ông đi nơi khác, vì ông đã
làm rối loạn, phá hư trật tự chốn minh ty của chúng tôi". Kế đó họ đưa tôi
vào một hang núi, và tôi được hoàn hồn sống lại. Sự tái sanh này chắc cũng nhờ
oai lực không thể nghĩ bàn của Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni. Vương khai Sĩ và Vương Sơn Nhơn nghe nói, mỗi
người đều đọc bản chú của mình để so sánh với bản chú của Vương Thiếu Phủ thì
thấy đồng nhau như một bản. Cả ba đều vui mừng, cùng nhau khánh hạ. Vương sơn
Nhơn nói: "Bản của tôi thọ giáo nơi vị thánh công nơi non Ngũ Đài",
Vương Thiếu Phủ bảo: "Tôi thọ học bản chú này với vị thần tăng".
Vương Khai Sĩ nói: "Còn bản của tôi được thọ truyền bởi ngài Kim Cang Trí
Tam Tạng, hiện Phạm văn bối diệp hiện còn lưu trữ". Ai nấy nghe nói đều
kinh ngạc, khen là chuyện hy hữu. Ngoài ra lại còn chuyện ông Trương Diệc trì chú
Tôn Thắng cứu được cha mẹ khỏi khổ địa ngục, sanh lên cõi trời. Chuyện ông
Trương Thừa Phước trì chú này khi bị minh ty đến bắt, đã không thọ khổ mà còn
cứu vớt được tội nhơn ở cõi âm được siêu thoát. Truyện vài vị tăng trì chú Tôn
Thắng cảm được xá lợi hiện và rất nhiều cảnh giới lành. Những chuyện trên đây có ghi chép trong tập Gia
Cú Linh Nghiệm Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni Ký. Sau tập này có chép bản văn đầy
đủ của chú ấy, gọi là Cụ Túc Bản. Bút giả y theo Cụ Túc Bản so sánh với phiên
âm của các bản khác, và tra cứu từ điển để dịch ra Việt ngữ cho đúng với Phạm âm.
Riêng bản dịch của Pháp Thiên Tam Tạng nhan đề Tối Thắng Phật Đảnh Đà Ra Ni so
với Cụ túc Bản văn cú đã đồng lại có phần rộng hơn. Sau khi hiệu kiểm, bút giả lại
ghi thêm vào những văn cú mà Cụ túc bản không có để được càng đầy đủ. Mong
rằng việc làm này, đem nhiều lợi ích cho người trì tụng.[] Thích Thiền Tâm Phụ
chú:
A.
Nay lại căn cứ theo bản Phật Đảnh Tôn Thắng Đà
Ra Ni của Thiền Môn Khóa Tụng do nhà xuất bản Khảo Cổ Văn Hóa Sự Nghiệp (Đài
Loan 1986) phát hành, thì thấy cách phiên âm theo tiếng Hán như sau: Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni 1. Nam mô bạc già phạt đế. 2. Tát bà tha đát lan lô chỉ dã. 3. Bát lạt để tì điệt sắt tra dã. 4. Bột đà dã. Bạc già phạt đế. 5. Đát điệt tha. 6. Úm, bột lâm bột lâm. 7. Thuật đà dã thuật đà dã. 8. Tỳ thâu đà dã. Tỳ thâu đà dã. 9. A táp ma táp ma. 10. Tam mạn đa. Phạ hoa sát. 11. Táp bát ra noa yết để ngược yết na. 12. Tỏa bà bà, tì thú đệ. 13. A tỳ xiển giả. Đổ mạn. 14. Tát bà đát da già đa. 15. Tô yết đa 16. Bạt ra bạt giả na. 17. A mật lật đa tỳ sư kế. 18. Ma ha mẫu đà ra, mạn đa ra bà na. 19. Úm. A hát ra a hát ra. 20. A dũ san đà ra ni. 21. Thu đà dã. Thu đà dã. 22. Già già na. Xoa phạ bà. Tỳ thú đệ. 23. Ô sắt nị sa. Tỳ thệ dã tỳ thú đệ. 24. Tố ha tát ra yết lại thấp nhị. San thù địa đế. 25. Tát ra bà đát tha yết đa. 26. A bà lô ky ni. 27. Tát bà đát đá già đa mạt đế. 28. Tát đà ra, ba la mật đa. 29. Ba rị, phú ra ni. 30. Na ta bồ mật bà la. Địa sắt sỉ đế. 31. Tát la bà đát đà yết đa da. Hất rị đà da. 32. Địa sắc sá na. 33. Đế sắt sỉ đê. 34. Úm, một điệt lệ, một điệt lệ. Ma ha một điệt lệ. 35. Bạt triết la ca dã. 36. Tăng hát đản na tỳ thú đệ. 37. Tát ra bà yết ma, phạt lạt noa tỳ thú đệ. 38. Bát lạt đổ rị ca đế, tì rị, tì thú đệ. 39. Bát lạt để na bà ra đái dã. A dũ thú đệ. 40. Tam ma da. Địa sắt sỉ na. Địa sắt xỉ đế. 41. Úm. Mạt nhĩ, mạt nhĩ, ma ha mạt nhĩ. 42. Á ma ni, á ma ni. 43. Tì ma ni, tì ma ni, mạ hạ tì ma ni.. 44. Mạt địa mạt đế, ma ha mạt đế. 45. Đát đạt đa bột đa. 46. Cô thi tì lê thú đễ. 47. Tị tốt bố tra. Bột địa tỳ thú đệ. 48. Úm, hy hy. 49. Thệ dã thệ dã. 50. Tị thệ dạ tị thệ dã. 51. Tam mạt ra tam mạt ra. 52. Sa phạ ra, sa phạ ra. 53. Tát la bà bột đà. 54. Địa sắt sỉ na. 55. Địa sắc sỉ đa. 56. Thú đệ thú đệ. 57. Bạt triết lệ, bạt triết lệ. Ma ha bạt triết lệ. 58. A bạt triết lệ. 59. Bạt triết la yết tì. 60. Thệ da yết tì. 61. Tì giá gia yết tì. 62. Bạt triết ra thệ bạt la yết tì. 63. Bạt triết rô na già đế. 64. Bạt triết rô na bà đế. 65. Bạt triết la tam bà phệ. 66. Bạt triết rô bạt triết rị na. 67. Bạt triết lam, bạt bà đổ mạ mạ. 68. Tát rị lam. Tát la phạ. Tát đỏa bà năng. 69. Tát xá gia. Tì lê, tì thú đệ. 70. Sất dạ phạ bà đổ mế tát na. 71. Tát lạt bà yết đế tì lê thú đễ. 72. Tát lạt bà đát đà yết đa. Sất da mi. 73. Tam ma ta phạ. Tát diện đô. 74. Tát bà đát đá già đa. 75. Tam ma tát phạ sa địa sắt sỉ đế. 76. Úm! Sất địa da, sất địa dạ. 77. Bột đề dã, bột đề dã. 78. Tỳ bồ đề dã, tì bồ đề dạ. 79. Bồ đà dạ, bồ đà dạ. 80. Tì bồ đà dạ, tì bồ đà dã. 81. Mô ca dã, mô ca dã. 82. Tì mộ ca dã, tì mộ ca dạ. 83. Thuật đà dạ, thuật đà dã. 84. Tì thuật đà dã, tì thuật đà dã. 85. Tam mạn đa đát biệt lệ, mô ca dã. 86. Tam mạn đà da sa mế biệt rị thú đễ. 87. Tát la bà đát tha già đa tam ma da hất rị đà da. 88. Địa sắt sa na, địa sắt sỉ đế. 89. Úm, mẫu đề lê mẫu đề lê, ma ha mẫu đà ra,. 90. Mạn đa ra, bát na 91. Địa sắc sỉ đế. 92. Xóa ha. B.
A Di
Đà Phật tâm chú:
Om, a mi đê oa rị. C.
Lục
Độ Mẫu tâm chú:
Om, ta rê, tu ta rê, tu ta rê, xoa ha. D.
Văn
Thù Bồ Tát tâm chú:
Om, a ra ba cha na đi. E. Kim
Cang Du Già nữ thần chú:
Om om om sát va bút đa da ki ni dê, vát ra, vát
na ni dê, vát ra, bê rô cha ni dê, hum, hum, hum, phát, phát, phát, sô ha. F. Tịnh
trừ nhất thiết nghiệp chướng thanh tịnh tam nghiệp độc bộ Kim Cang Trì Như Lai
Bách Tự Tâm chú:
Om, vát ra sát toa, sam ma da, ma nu ba la da,
vát ra sát toa tê nô ba tí ta, đa rí đô, mê ba oa, su tô ca dô, mê ba oa, su bô
ka dô, mê ba oa, a nu rắc tô, mê ba oa, sát oa sít đi, mê ba ra dát cha, sát oa
các ma, sút da mê, chi tam, si ri yam, ku ru hum, ha ha ha ha ho ba ga oan, sát
oa tát tha ga ta, vát ra, ma mê mun cha, vát ra, phạ oa, ma ha sa ma da, sát
toa a hum phát. ---o0o--- Hết 1 Ô sắc ni sá (Usnisa)
dịch là Phật đảnh,
tướng vô kiến đảnh nơi đầu của Phật 2 Bạc Già Phạm (bhagàvan) dịch Tự Tại, đoan nghiêm,
kiết tường, tôn quý, hữu đức, tức chỉ cho đức Phật. 3 Thiên: hàng trời,
Long: rồng, Dạ xoa: dịch Thiệp tật quỉ loài quỷ bay mau lẹ; Càn thát bà: dịch
Khứu hương nhạc, nhạc thần của Thiên Đế; A Tu La: dịch Phi Thiên, loài có phước
như trời mà đức không bằng trời; Ca Lâu La: thần kim súy điểu; Khẩn Na La: dịch
Nghi thần, thần ca múa của Thiên Đế, Ma Hô Lặc Già: thần rắn; Cưu Bàn Trà: Yểm
mị quỷ; Tỳ Xá giá: Đạm tinh khí quỷ; Nhơn Phi Nhơn: loài như người nhưng có sừng hoặc có cánh khác với người. 4 Thất thánh tài: lòng tin, giới hạnh, sự nghe pháp, hổ với bên ngoài, tự thẹn bên trong, xả bỏ, trí huệ. 5 Bát nạn: 1.
địa ngục 2. Ngạ quỷ 3. bàng sanh 4.
câm ngọng, đui điếc 5. Sanh trước Phật hay sau Phật (vào thời
không có Phật pháp) 6. Sanh Bắc Cu Lư Châu 7. Sanh Vô Tưởng thiên 8/ Thế Trí
Biện Thông. 6 Phú Đơn Na (Putàna):
dịch xú ngạ quỷ, thường làm bịnh nóng. Ca Tra Phú Đơn Na (Katapùtàna): dịch là
Kỳ xú quỉ, thường làm bịnh kêu khóc và gây tai nạn. Hai loài quỉ này thân hình
rất xấu xa, hôi hám. KINH NIỆM PHẬT BA LA MẬT Đời Tấn, ngài Tam-tạng Pháp-sư Cưu-Ma-La-Thập Dịch từ Phạn ra Hán. Việt Dịch : HT. Thích Thiền Tâm |
Cuộc đời hòa thượng Thích Thiền Tâm
Đăng ngày 09/05/2014 bởi Thích Chơn Đại | 0 Bình luận
hoa thuong thich thien tam Vô Nhất Ðại Sư Thích Thiền Tâm
Thượng Nhân pháp danh Trí Hiền, pháp tự Thiền Tâm, biệt hiệu Vô Nhất, bút hiệu Liên Du, thế danh là Nguyễn Nhựt Thăng, sanh năm Ất Sửu (1926) tại làng Bình Xuân, quận Hòa Ðồng, tỉnh Gò Công. Là con thứ mư̖#7901;i của cụ Nguyễn Văn Hương, một bậc túc nho, và cụ bà Giác Ân Trần Thị Dung. Trong khi mang thai Ðại Sư, cụ bà đột nhiên chăm lo làm công quả tại ngôi chùa nhỏ trong làng. Có lẽ đó là do phước nghiệp của Ðại Sư chiêu cảm nên điều này.
Từ thuở nhỏ, Ðại Sư đã không thích chạy giỡn, chơi đùa mà thường thích thắp hương, bái xá, và theo thân phụ học chữ Nho. Ðến năm lên chín tuổi, Ðại Sư đã có thể đọc trôi chảy các sách Nho học như Tứ Thư, các bộ truyện Tàu và viết chữ Hán khá lưu loát. Song song với việc học chữ Hán, Ðại Sư còn học tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ.
Từ năm lên bảy tuổi, nhân mục kích cái chết rất trẻ của một thiếu niên trong xóm, Ðại Sư đã bắt đầu có những ưu tư về lẽ sống chết. Vào khoảng năm 1935, lúc lên mười tuổi, trong lúc đang cắt cỏ ruộng với thân phụ, chợt Hòa Thượng Phật Ấn, trụ trì chùa Vĩnh Tràng (Mỹ Tho), đi ngang. Ðại Sư liền chạy tới ba lượt đảnh lễ Hòa Thượng. Hòa Thượng liền huyền ký về sau đứa trẻ kỳ lạ này sẽ xuất gia và nhắc nhở gia đình không nên ngăn cản.
Cuối năm 1937, sau khi hoàn tất bậc Tiểu Học, Ðại Sư xin phép cha lên Mỹ Tho, ngụ tại chùa Vĩnh Tràng để tiếp tục học chữ và Ðông Y. Chính trong thời gian này, Ðại Sư đã tận dụng thời gian rảnh rỗi để tự trau giồi nội điển cũng như tham học Phật pháp với Bổn Sư Hòa Thượng Phật Ấn. Hòa Thượng đặt cho pháp danh cho Ðại Sư là Trí Hiền. Do cơ duyên, Ðại Sư cũng được học theo nghề thuốc với một vị Ðông Y Sĩ nổi tiếng ở Mỹ Tho thời đó là thầy Tế An Ðường và các vị đại phu nổi tiếng khác.
Ðến năm 1943, Ðại Sư đã lấy được bằng Thành Chung (tương đương Trung Học Ðệ Nhất Cấp sau này). Trở về quê nhà, Ðại Sư vừa hốt thuốc cho thân mẫu đang lâm bịnh vừa giảng dạy Phật pháp cho song thân và người anh thứ năm. Dưới sự khuyến hóa của Ðại Sư, gia đình ngài đã biết thờ Phật và tu niệm.
Năm 1945, sau khi cầu thỉnh xin xuất gia không được song thân chấp nhận, ngài đã lén trốn đi, tìm đến chùa Sắc Tứ Linh Thứu ở Xoài Hột để xin xuất gia với Hòa Thượng thượng Thành hạ Ðạo. Ðại Sư được thọ Sa Di Giới với pháp tự là Thiền Tâm.
Nhận thấy sa di Thích Thiền Tâm sẽ là một bậc long tượng cho Phật Giáo Việt Nam sau này, Hòa Thượng Linh Thứu đã thuyết phục Ðại Sư lên Sài Gòn, tìm đến Hòa Thượng viện chủ Tổ Ðình Ấn Quang thượng Thiện hạ Hòa để xin gia nhập Phật Học Viện Liên Hải (chùa Sùng Ðức) hầu thụ học chương trình Trung Ðẳng Phật Học từ năm 1948 đến năm 1950.
Năm 1950, Ðại Sư thọ Cụ Túc Giới và cầu pháp nơi Viện Chủ Tổ Ðình Ấn Quang kiêm đốc giáo Phật Học Ðường Nam Việt là Hòa Thượng Thiện Hòa. Khi chương trình Cao Ðẳng Phật Học khóa 1 được khai giảng, do thành tích học tập xuất sắc, Ðại Sư được chọn vào lớp Tăng Sinh đầu tiên. Dù chỉ mới 24 tuổi, Ðại Sư đã được ban giáo thọ tin cậy, giao đảm nhiệm chức vị Tri Chúng (tức là trưởng tràng). Trong quá trình học tập, Ðại Sư luôn nổi bật về mọi phương diện học vấn, tài đức, khả năng, thiện chí.
Khi khóa học hoàn tất vào năm 1954, trong số hơn 100 học tăng, chỉ có 13 vị được tốt nghiệp, Ðại Sư được xếp hạng Tối Ưu. Sau khi tốt nghiệp, Ðại Sư được ban giảng sư Phật Học Ðường Nam Việt giao trách nhiệm hoằng dương Tịnh Ðộ. Ðại Sư đã khẩn nài các vị tôn túc cho ngài được nhập thất chuyên tu Tịnh Ðộ một thời gian để có thể hoàn thành trọng trách ấy; nhưng các vị tôn sư chỉ hứa khả cho ngài nhập thất trong một thời gian ngắn và phải xuất quan bất cứ khi nào giáo hội cần đến ngài.
Trở về Mỹ Tho, Ðại Sư lập cốc tại Cái Bè để chuyên tu Tịnh Nghiệp suốt năm năm (1955-1960). Trong thời gian ẩn cư này, dù gặp nhiều chướng duyên khảo đảo, Ðại Sư vẫn tinh cần tu tập, đồng thời biên dịch hai tác phẩm quan trọng làm tư lương cho Tịnh Ðộ học nhân Việt Nam:
* Trích tuyển những bài văn quan trọng trong cuốn Ấn Quang Văn Sao, soạn thành tác phẩm Lá Thư Tịnh Ðộ (hoàn tất năm 1956) nhằm phá nghi, hóa đạo chúng sanh tin tưởng, hành trì Tịnh nghiệp.
* Soạn thuật bộ Tịnh Ðộ Tân Lương, 2 quyển, dày 800 trang để chỉ dạy cặn kẽ sự lợi ích thiết thực của pháp môn Tịnh Ðộ cũng như cách thức tu hành sao cho xứng hợi với từ bi nguyện hải của đức Từ Phụ Di Ðà.
Từ năm 1960-1962, Thượng Nhân tiếp tục nhập thất tịnh tu tại Vang Quới (Bến Tre) và soạn thuật những tác phẩm quan trọng sau đây như Hương Quê Cực Lạc, Tịnh Ðộ Thập Nghi Luận, Tịnh Ðộ Pháp Nghi. Tiếp đó, trong thời gian nhập thất tịnh tu tại tịnh thất Giác Duyên (Chợ Gạo, Mỹ Tho), ngài đã phiên dịch kinh Phật Thuyết Thiện Ác Nhân Quả Báo Ứng theo thể văn vần và soạn thuật bộ Quán Vô Lượng Thọ Sớ Sao. Ðây là một công trình đặc sắc tổng hợp các ý kiến phán giáo và chú giải kinh Quán Vô Lượng Thọ của các vị Tổ Sư lỗi lạc như Thiên Thai Trí Giả, Linh Chi Nguyên Chiếu, Liên Tông Nhị Tổ Thiện Ðạo v.v…
Năm 1963, sau cơn Pháp Nạn, viện Trung Ðẳng Chuyên Biệt Phật Học được thành lập để đào tạo tăng tài tại chùa Huệ Nghiêm (Phú Lâm, Sài Gòn). Hòa Thượng Thiện Hoa đã triệu Ðại Sư về Sài Gòn giữ chức Viện Trưởng kiêm Ðốc Giáo với sự phụ tá của hai vị Thượng Tọa Bửu Huệ và Thanh Từ. Học Viện sau được đổi tên thành Viện Cao Ðẳng Phật Học Huệ Nghiêm. Ðể việc đào tạo được toàn diện, Ðại Sư đã quyết định mở thêm việc học ngoại điển theo chương trình văn hóa phổ thông theo quy định của Bộ Giáo Dục. Ngoài việc giảng dạy tại Huệ Nghiêm, Ðại Sư còn được cung thỉnh làm giảng sư giảng dạy môn Duy Thức cho Phân Khoa Phật Học của viện đại học Vạn Hạnh và làm giáo thọ cho các ni trường Dược Sư và Từ Nghiêm.
Tuy rất bận rộn, Hòa Thượng vận tiếp tục soạn thuật các tác phẩm quan trọng sau đây: Phật Học Tinh Yếu, Niệm Phật Thập Yếu, Duy Thức Học Cương Yếu, Ðại Bi Tâm Ðà Ra Ni (Ðại Chánh Tạng, quyển 20, kinh số 1060, bản Hán dịch của ngài Già Phạm Ðạt Mạ). Riêng cuốn Niệm Phật Thập Yếu là một tác phẩm cực quý cho hành giả Tịnh Nghiệp, luận về mọi phương diện sự lý của pháp Trì Danh Niệm Phật, cách thức tu tập, ngăn ngừa chướng duyên cho hành giả Tịnh Ðộ. Vì thế, tác phẩm này đã liên tục được tái bản, tục ấn. Ngay cả Tịnh Tông Học Hội Ðài Loan cũng đã trùng ấn tác phẩm này với số lượng lớn (10.000 cuốn).
Tiếc thay, Ðại Sư đảm nhận trách nhiệm đào tạo Tăng tài cho Giáo Hội nhằm ngay thời kỳ đấu tranh kiên cố của thời Mạt Pháp. Ngay trong số những học tăng đang theo học tại Huệ Nghiêm, không ít vị đã bị lôi cuốn vào những cuộc đấu đá, sách động nhằm tranh giành quyền lực vô bổ. Chủ trương chuyên tâm nghiên cứu Phật học, tuyệt đối không tham gia vào những cuộc tranh chấp thế tục khoác mỹ hiệu bảo vệ đạo pháp của Hòa Thượng bị chống đối và ngài bị chỉ trích là khiếp nhược, cầu an, thiếu tinh thần tương trợ để tăng thêm “sức mạnh” cho Phật Giáo Việt Nam!
Nhận thấy không thể làm gì khác hơn được để vãn hồi tình trạng hỗn loạn nay biểu tình, mai tuyệt thực chống đối chính phủ được cầm đ#7847;u bởi những tăng sĩ hoạt đầu đầy tham vọng thời ấy, Ðại Sư đành chọn con đường từ nhiệm để kết thất ẩn tu. Năm 1967, nhân một người tục gia đệ tử là Minh Thiện đến thăm và nhắc đến ấp địa danh Phú An, thấy địa danh này phù hợp với lời tiên triệu của Cố Bổn Sư mình trong giấc mộng nên vào tháng 12 năm đó, Hòa Thượng đã quyết chí tạ từ Hòa Thượng Phó Tăng Thống Thiện Hòa để xin về Ðại Ninh ẩn tu, giao Phật Học Viện Huệ Nghiêm lại cho Thượng Tọa Bửu Huệ quản trị. Tuy vậy, Ðại Sư vẫn phải lưu Học Viện một thời gian để giúp đỡ Thượng Tọa Bửu Huệ theo lời yêu cầu của Hòa Thượng Phó Tăng Thống. Mãi đến năm 1968, việc xây cất Hương Quang tịnh thất ở Phú An đã xong, Hòa Thượng liền chính thức ẩn tu vào năm 43 tuổi!
Ðại Ninh là một vùng hoang vu nằm cách quốc lộ 20 chừng ba cây số, cạnh sông Ðại Ninh thuộc khu vực thủy điện Ða Nhim. Hương Quang tịnh thất được dựng trên một vùng đất hoang vu toàn gò mối, rắn rết thuộc thôn Ðại Ninh, thôn Phú An, xã Phú Hội, quận Ðức Trọng, tỉnh Lâm Ðồng. Thôn Phú An chỉ có chừng 50 nhà và chỉ có 10 nhà là người Kinh. Hương Quang tịnh thất chỉ là một căn thất nhỏ lớn chừng 2 phòng ngủ gồm 2 tầng: tầng trên để thờ Phật, tầng dưới để ở và làm việc. Về đây, Ðại Sư chỉ lo chuyên tu trì niệm, rảnh rỗi thì làm vườn, dọn rẫy. Ðức hạnh của Sư đã cảm nhiều loài dị loại đến nghe kinh, hộ thất. Hòa Thượng đã thực hành pháp Du Già Thí Thực để hồi hướng công đức đến cho chúng. Theo các đệ tử của ngài, những loài linh xà thường hiện thân trong giấc mộng xin quy mạng, thọ giới. Hòa Thượng đều hoan hỷ lập đàn truyền giới cho họ.
Tuy đã quyết chí ẩn lánh thế tục, nhưng tứ chúng vẫn mến mộ đức hạnh của một bậc cao tăng đức hạnh nên lần lượt đổ dồn về Ðại Ninh lập thất tu học. Chỉ trong vòng một năm từ 1969 đến 1970, vùng Ðại Ninh hoang vắng đã trở thành một “làng tu” nổi tiếng ở Lâm Ðồng. Do tứ chúng vân tập quá đông đảo, chẳng đặng đừng, Ðại Sư phải xuất quan theo lời thỉnh cầu của mọi người để lãnh đạo công việc kiến thiết một tu viện cho tứ chúng có nơi an cư tu học. Nhờ phước lực của Hòa Thượng, một đại đội công binh chịu trách nhiệm tu bổ kiều lộ trong vùng đã hoan hỷ đứng ra góp phần xây cất tu viện.
Ðầu năm 1971, Hương Nghiêm tịnh viện được hoàn thành, trở thành đạo tràng Tịnh Ðộ đầu tiên trong vùng. Cuối năm 1971, Ðại Sư giao việc quản trị Hương Quang Tịnh Thất và Hương Nghiêm Tịnh Viện cho đại chúng quản trị để nhập thất vĩnh viễn tại Phương Liên tịnh xứ ở gần đó. Hòa Thượng dành trọn thời gian để tụng niệm, quán tưởng, lễ bái, dịch thuật. Trong thời gian này, Ðại Sư đã phiên dịch các tác phẩm quan trọng sau đây: Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà Ra Ni (Ðại Chánh Tạng quyển 19, kinh số 967), Ðại Nhựt Kinh Sớ (do ngài Nhất Hạnh trứ tác, Ðại Chánh Tạng quyển 39, kinh số 1796 gồm 20 quyển), Mấy Ðiệu Sen Thanh (lược dịch Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục), chú giải 100 bài kệ Niệm Phật của Tổ Triệt Ngộ, Liên Tông Thập Tam Tổ, Tam Bảo Cảm Ứng Yếu Lược Lục, Nhơn Quả Luân Hồi Tạp Lục Ký, Tây Phương Nhật Khóa và nhiều bản kinh Mật Tông quý giá khác.
Tháng Giêng năm 1989, nhận biết thân mẫu mình sắp mãn phần, Hòa Thượng đã cho người đón mẹ lên Phương Liên Tịnh Xứ để dùng phương tiện thiện xảo khuyến hóa mẹ nhất tâm niệm Phật. Ngày mồng 2 tháng 5, cụ bà đến chào từ biệt Hòa Thượng để đi xa. Biết mẹ đã biết trước ngày quy tịch, ngày hôm sau, Hòa Thượng đã nhóm chúng hộ niệm cho cụ. Ðến 12 giờ trưa ngày 3 tháng 5, cụ bà đã ngỏ lời chào vĩnh bệt và thoát hóa trong tiếng niệm Phật của đại chúng, thọ 98 tuổi.
Kể từ năm 1989, thân tứ đại của Ðại Sư đã không điều hòa, nhưng Ðại Sư cương quyết khước từ bao lượt thỉnh cầu về Sài Gòn chữa bịnh của các môn đồ. Dù thân bịnh trầm kha, Ðại Sư luôn tinh tấn và tùy cơ nhiếp hóa chúng sanh không mệt mỏi. Mồng Hai tháng Tám năm 1992, biết trước ngày vãng sanh, Hòa Thượng đã viết di chúc dặn dò hậu sự và chính thức chỉ định Ni Sư Thanh Nguyệt làm trưởng tử và là người chịu trách nhiệm chính lo liệu hậu sự cho Ðại Sư vào ngày 12 tháng 10 năm 1992 để tránh những tranh chấp có thể xảy ra sau khi Hòa Thượng viên tịch. Trong di chúc, Hòa Thượng dặn các môn nhân hoặc bỏ xác ngài trong rừng hoặc quăng xuống vực thẳm để thí cho các loài chim, thú, thủy tộc; hoặc bó chiếu chôn sâu, khỏa bằng, trên trồng thơm chuối. Cùng lắm là đóng sơ mấy tấm gỗ tạp, trong độn lá chuối, trên để tấm pháp y, xây ngôi mồ cỏ đơn sơ. Trên mộ, dựng tấm bia: “Bất huệ nạp tăng Thích Thiền Tâm hiệu Vô Nhất mai cốt xứ” (Chỗ vùi xương của ông sư thiếu trí huệ là Thích Thiền Tâm hiệu Vô Nhất).
Ðêm 20 rạng 21 tháng 11 năm Nhâm Thân 1992, Ðại Sư trì niệm suốt buổi trước bàn Phật. Ðến 3 giờ sáng, sư sai ni sư thị giả triệu đại chúng nhập thất hộ niệm. Ðại Sư thay y hậu tề chỉnh, an tọa ngồi niệm Phật giữa tiếng hộ niệm tha thiết của đại chúng. Ðại Sư an ủi:
– Hãy bình tâm lại, đừng có khóc nữa. Ta được về Tây là điều hân hạnh, các con hãy theo đó mà cố gắng niệm Phật chuyên cần. Nếu được như vậy, ắt một ngày kia sẽ cùng hội ngộ nhau nơi miền An Dưỡng.
Rồi ngài đọc kệ thị tịch:
Ðời ta chí gởi chốn Liên Trì
Trần thế vinh hư sá kể gì
Bốn tám năm dài chuyên lễ niệm
Mừng nay được thấy đức A Di.
Nói xong, Ðại Sư yên lặng nhập định. Ðến 6 giờ 15 phút, Ðại Sư bỗng mở mắt, chắp tay nói:
– Ta đi đây! Ðại chúng nên bảo trọng.
Rồi tay vẫn kết ấn Di Ðà định, an nhiên tọa hóa quy Tây ngay trên bản tọa. Ðại Sư thọ 68 tuổi đời, 48 tuổi đạo, hạ lạp 42.
Lễ di quan, nhập tháp hoàn tất vào khoảng 8 giờ sáng ngày 25 tháng 11 năm Nhăm Thân (tức 18 tháng 12 năm 1992). Trong lễ khai mộ vào ngày 21 tháng 12, 1992, đại chúng thấy có một cặp rắn vàng óng bò đến nằm trước mộ một lúc lâu, rồi ngẩng đầu, gật đầu chào ni sư Thanh Nguyệt ba lần trước khi bò mất dạng. Theo các môn nhân, đó là cặp vợ chồng rắn đã từng quy y với Hòa Thượng trước kia. Ðại Sư có lưu lại một kim cang nha xỉ xá lợi (tức là một cái răng rất chắc chắn, sáng đẹp, không ai cưa cắt nổi).
Xét công hạnh, Ðại Sư không những chỉ giáo hóa bằng ngôn giáo mà còn bằng cả thân giáo. Bao nhiêu người nhờ vào những tác phẩm của ngài hay được gặp gỡ ngài mà được lợi lạc nơi pháp môn Tịnh Ðộ. Ðiểm qua những dịch phẩm và trước tác của ngài, điểm nổi bật là một trình độ Phật học uyên thâm, một mức độ hiểu biết sâu xa các nền triết học ngoài Phật giáo được trình bày bằng một văn pháp giản dị, chính xác, trong sáng, trau chuốt, nhẹ nhàng, thanh thoát, bóng bảy nhưng không hoa mỹ, cầu kỳ, ý tứ thâm trầm nhưng dễ hiểu. Có nhiều đoạn Ðại Sư chỉ dịch ý để cho hàng hậu học dễ lãnh hội được ý nghĩa của từng văn bản cổ thay vì bám chặt theo mạch văn khiến cho người đọc có cảm giác những tác phẩm ấy vừa được viết ngay trong thời đại này, thay vì đã được viết ra vào thời Ðường, thời Tống cách đây cả ngàn năm.
Có đọc những dịch phẩm ấy, ta mới thấy kiến văn của Ðại Sư vô cùng quảng bác, không những chỉ đọc hết những kinh điển Tịnh Ðộ trong Ðại Tạng và Tục Tạng, Ðại Sư còn đọc rất nhiều tác phẩm Tịnh Ðộ cận đại nữa. Tuy chuyên chú nơi Tịnh Ðộ, Ðại Sư vẫn bác lãm các kinh điển của chư Tông, mà điển hình nhất là Ðại Sư đã được cung thỉnh dạy môn Duy Thức cho học tăng và sinh viên ngành Phật Học tại Ðại Học Vạn Hạnh khi còn rất trẻ.
Không những là một vị tôn sư của Tịnh Ðộ, Vô Nhất Thượng Nhân còn là một hành giả thành tựu trong Kim Cang Thừa. Tuy chỉ dùng Mật chú làm trợ hạnh để hỗ trợ cho Tịnh nghiệp, Ðại Sư đã đạt những thành tựu lớn lao trong Mật tông. Rất nhiều hành giả Mật Tông được pháp ích khi đến cầu học với ngài. Qua những dẫn giải thi thoảng đây đó trong các tác phẩm giảng dạy về Tịnh Ðộ, ta thấy Vô Nhất Thượng Nhân là một trong số rất ít những đại sư thâm hiểu tột cùng giáo pháp phức tạp, vi diệu của Ðông Mật, nhất là hai hệ thống giáo nghĩa Kim Cang và Thai Tạng. Cùng với A Xà Lê thượng Viên hạ Ðức, Ðại Sư Thiền Tâm được xưng tụng là tối thượng Kim Cang A Xà Lê của Mật tông Việt Nam. Khi chọn các bản kinh Mật Tông để dịch, Hòa Thượng cũng thận trọng chọn lấy những bản hoàn chỉnh nhất để dịch và chú giải tỉ mỉ khiến cho dịch phẩm của ngài dễ hiểu, dễ thực hành, vượt xa các dịch phẩm của những vị hoằng truyền Mật tông khác.
Thị hiện chỉ 68 năm trên cõi trần gian này và thực sự hành hóa chỉ 42 năm nhưng Ðại Sư đã đóng góp rất lớn lao vào kho tàng văn hóa Phật Giáo Việt Nam. Chỉ bằng những tác phẩm của mình, Ðại Sư đã hóa độ bao nhiêu tứ chúng hữu duyên, huống hồ là những ai có cơ duyên gặp gỡ, đích thân lãnh thọ sự giáo hóa của ngài. Thế mà, Ðại Sư vẫn khiêm tốn chỉ xưng mình là Vô Nhất, lấy ý từ câu “Nhất sự vô thành, thân tiệm lão” (không có chuyện gì làm cho ra hồn hết mà thân đã già dần mất rồi). Ðức hạnh, phong thái khiêm tốn ấy càng làm cho tứ chúng ngưỡng mộ, khâm kính. Ngưỡng mong hàng Phật tử Việt Nam ta sẽ luôn được giác linh ngài thầm gia hộ, dìu dắt để cùng được hội ngộ chốn Lạc Bang.
Theo: “Vô Nhất Ðại Sư Thích Thiền Tâm, một cao tăng cận đại của Bảo Ðăng do chùa Pháp Hoa ấn hành”
Một danh Tăng đức độ Uy tín , giỏi về Phật học tài năng và từ bi, mang trên mình trọng trách trùng hưng Tịnh Độ, mở mê, bài ngộ để xứng hợp với căn cơ của tất cả tứ chúng đồng quy hướng về Tịnh Tông.Và là một Tôn sư hoằng dương Chánh Pháp với 2 pháp môn, Mật Tịnh song tu .
Nổi tiếng nhất là quyển kinh:
NIỆM PHẬT THẬP YẾU
(Hoằng dương Tịnh Độ, giá trị vô cùng.)
SÁM HỐI DIỆT TỘI ,TRANG NGHIÊM THÀNH PHẬT.
ĐẠI BI TÂM ĐÀ RA NI KINH.
Quyển kinh về Mật Tông giãng dạy, và hiễn dương về oai lực của chú Đại Bi một thần chú rất phổ thông đang được dùng trong các khóa lễ hiện nay nơi Phật Tự.
Hầu hết chư Tăng,Ni,Phật tử,tín đồ Phật giáo Việt Nam khắp nơi trong nước và ngoài nước đều bùi ngùi ngưỡng vọng,về Hòa Thượng .Một cao Tăng thời cận đại, đã vãng sanh về miền An dưỡng của Phật Di Đà nơi Tây Phương Cực Lạc Quốc.Và mãi mãi vang danh theo dòng thời gian không bao giờ tắt. Sứ mạng Ngài đã hoàn thành. Mong sao hậu lai nối chí Ngài để tiếp tục hoằng dương Tịnh Độ, phổ biến khắp gần xa trên mọi miền đất nước, không phân biệt màu da sắc tộc ,ai ai cũng đều tỏ ngộ, phát khởi niệm tâm một lòng niệm phật ,cầu nguyện một đời đới nghiệp vãng sanh Tây Phương Cực Lạc ,dự vào chín phẩm sen vàng của miền an dưỡng!
Lạc Quốc quê xưa Ngài trở bước,
Ta bà còn khổ lắm truân chuyên.
Ước mơ hoài bảo mong thực hiện,
Duyên trần đã mãn đáo Tây Thiên.
NAM MÔ HƯƠNG NGHIÊM ĐƯỜNG THƯỢNG
HÒA THƯỢNG THƯỢNG THIỀN HẠ TÂM GIÁC LINH CHỨNG GIÁM :
Tổ Đình:
Tu viện Hương Nghiêm,Đại Ninh
Phú An, Phú Hội, Đức Trọng, Lâm Đồng.
☞ This is where you support and contact me
ADMIN : ĐẶNG VĂN QUÝ 17/03 1991 ( PD:Thiện Đức )